XỬ LÝ NƯỚC THẢI DỆT MAY

Song song với sự phát triển mạnh mẽ của ngành Dệt may là vấn đề ô nhiễm môi trường phát sinh từ quá trình sản xuất. Hàng năm ngành Dệt may thải vào môi trường một lượng nước lớn nước thải với nồng độ ô nhiễm cao do nước thải chưa được xử lý hoặc đã xử lý nhưng chưa đạt quy chuẩn/tiêu chuẩn môi trường.





Sơ đồ công nghệ một trạm Xử lý nước thải dệt may điển hình

Nước thải từ quá trình sản xuất chảy qua song chắn rác, nhằm loại bỏ rác thải có kích thước lớn, các mảnh vụn thô, các xơ và các sợi chỉ mịn trước khi qua các công trình xử lý kế tiếp.

Tháp giải nhiệt: một số công đoạn của quá trình sản xuất như nhuộm, giũ hồ, giặc tẩy thường nước thải có nhiệt độ cao, để đảm bảo hoạt động của hệ thống xử lý đặc biệt là công trình xử lý sinh học, nước thải có nhiệt độ cao được đưa qua tháp làm giải nhiệt để hạ nhiệt độ của nước thải xuống dưới 40oC trước khi vào bể điều hòa.

Bể điều hòa: do nồng độ các chất thải của nước thải không ổn định và thường dao động rất lớn vào các thời điểm sản xuất khác nhau nên bể điều hòa có tác dụng, điều hòa lưu lượng và đảm bảo nồng độ chất thải có trong nước thải luôn ổn định hoặc dao động ở mức độ chấp nhận khi đi vào hệ thống xử lý.

Điều chỉnh pH: nước thải dệt nhuộm ở một số công đoạn thường có pH cao hoặc thấp, để đảm bảo cho quá trình keo tụ cũng như hoạt động của vi sinh vật tại bể sinh học hiếu khí, nước thải được điều chỉnh để đưa pH về giá trị khoảng 6,0- 8,5 bằng dung dịch NaOH hoặc H2SO4 trước khi qua công đoạn xử lý tiếp theo.

Bể phản ứng - keo tụ - tuyển nổi: Tại bể phản ứng, nước thải được bổ sung dung dịch keo tụ Al2(SO4)3 và chất loại màu để keo tụ các chất bẩn có trong nước thải và loại màu nước thải. Nước thải sau khi thêm hóa chất keo tụ sẽ kết tụ các chất bẩn lại với nhau, đồng thời chất trợ keo tụ (polymer) được bổ sung nhằm tăng kích thước của bông cặn và tăng hiệu quả lắng. Bể tuyển nổi có tác dụng tách bông cặn khỏi nước thải.

Bể bùn hoạt tính hiếu khí – bể lắng sinh học: Bể bùn hoạt tính hiếu khí sử dụng vi sinh vật hiếu khí (bùn hoạt tính lơ lửng) trong điều kiện giàu oxy (DO > 2 mg/L) nhằm loại bỏ chất hữu cơ và một phần độ màu của nước thải. Bể lắng có tác dụng tách bông bùn khỏi nước thải dưới tác dụng của trọng lực.

Bùn sau lắng được bơm đến bể nén bùn và một phần bùn hồi lưu bổ sung vi sinh vật cho bể bùn hoạt tính hiếu khí. Phần bùn dư được tách nước trước khi chuyển giao cho đơn vị có chức năng xử lý. Nước thải sau khi qua bể lắng tự chảy sang bể bể trung gian.

Bể trung gian, bể khử trùng: Nước trong sau khi lắng chảy sang bể trung gian, từ đây chảy sang bể khử trùng và được bổ sung dung dịch NaOCl nhằm loại bỏ vi sinh vật gây bệnh trước khi xả thải ra môi trường. Tại bể trung gian, một phần nước được bơm hồi lưu để pha trộn chất dinh dưỡng là H3PO4 và Urê nhằm bổ sung photpho và nitơ cho vi sinh vật tại bể sinh học hiếu khí dưới dạng phun sương.

Bể nén bùn nhằm mục đích cô đặc bùn sau khi lắng, tại đây diễn ra quá trình tách nước dưới tác dụng của trọng lực. Bùn sau đó được bơm từ bể nén bùn sang bể trộn bùn có bổ sung polymer. Sau cùng, hỗn hợp bùn được bơm sang máy ép bùn để tạo thành bùn dạng bánh, và định kỳ được giao cho đơn vị có chức năng xử lý.