XỬ LÝ NƯỚC THẢI NHÀ MÁY GIẤY

Ngành Sản xuất Giấy và bột giấy là một ngành phát sinh nhiều nước thải với nhiều thành phần ô nhiễm khác nhau do sử dụng nhiều nước và hoá chất (hồ, phủ, chất độn, và phụ gia) trong quá trình sản xuất. Nước thải với lưu lượng và nồng độ các chất ô nhiễm cao có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường nếu như nước thải không được xử lý phù hợp.





Sơ đồ công nghệ một trạm Xử lý nước thải giấy và bột giấy điển hình

Nước thải phát sinh từ quá trình sản xuất được dẫn qua song chắn rác thô dạng xích (kích thước khe 20 mm) để giữ lại các chất thải rắn có kích thước lớn. Nước thải sau khi được tách rác chảy qua hai mương tách bột, phần nước trong được dẫn qua song chắn rác thô (kích thước khe 10 mm) nhằm loại bỏ chất thải rắn một lần nữa trước khi chảy vào ngăn tập trung.

Tại ngăn tập trung, nước được bơm qua thiết bị tách khí trước khi chảy qua sàng nghiêng (có kích thước khe lưới 0,65mm). Tại sàng nghiêng, các loại chất thải rắn (chủ yếu là bột giấy), băng keo nhỏ, rác mịn có kích thước lớn hơn 0,65 mm được giữ lại và được thu gom về ngăn chứa cặn, phần nước qua sàng nghiêng tự chảy vào bể phản ứng. Tại đây, nước thải được điều chỉnh pH, và hóa chất keo tụ PAC (Poly aluminium chloride) được hòa trộn với nước thải nhờ hệ thống phân phối khí dưới đáy bể. Nước thải sau phản ứng tiếp tục đi vào bể tạo bông, tại đây polymer anion được châm vào bể để tăng kích thước và trọng lượng của bông cặn. Nước thải từ bể tạo bông tự chảy sang bể lắng đợt I để tách các bông cặn hóa lý, sau đó chảy vào ngăn chứa trung gian. Từ ngăn trung gian, nước thải được bơm lên tháp giải nhiệt để giảm nhiệt độ xuống dưới 400C trước khi chảy vào bể điều hoà.

Từ bể điều hòa nước thải được bơm qua cụm xử lý sinh học bao gồm bể sinh học kỵ khí (IC) và bể bùn hoạt tính hiếu khí lơ lửng. Nước thải sau khi qua bể kỵ khí tự chảy vào bể chứa trung gian, sau đó được bơm sang bể bùn hoạt tính hiếu khí. Hỗn hợp nước và bùn hoạt tính được dẫn qua bể lắng thứ cấp để tách bông cặn sinh học. Một phần bùn được tuần hoàn lại bể trung gian nhằm duy trì nồng độ bùn nhất định trong bể bùn hoạt tính hiếu khí, phần còn lại được đưa đến bể nén bùn. Váng nổi bề mặt được hệ thống thanh gạt đưa về mương chứa cặn và nước sau lắng tự chảy vào bể khử màu.

Tại bể khử màu, chế phẩm VM-FLOCK được bơm vào nhờ hệ thống bơm định lượng, nước thải và chế phẩm VM-FLOCK được hòa trộn đều trong bể nhờ hệ thống phân phối khí. Quá trình xử lý bằng chế phẩm VM-FLOCK nhằm mục đích khử độ màu, COD và BOD5 còn lại trong nước thải trước khi cho qua công đoạn xử lý bậc ba phía sau. Nước thải sau quá trình phản ứng với VM-FLOCK tập trung vào ngăn thu nước, sau đó được dẫn sang bể lắng để loại bỏ bông cặn. Nước sau lắng được dẫn vào bể chứa trung gian, phần bọt và váng được thu gom vào bể chứa nhờ hệ thống gạt váng. Bùn từ bể lắng tự chảy sang ngăn chứa trung gian, sau đó được bơm về bể nén bùn.

Một phần nước thải tại bể chứa trung gian được bơm về phân xưởng xeo để tái sử dụng (lượng nước tái sử dụng chiếm khoảng 40% lượng nước sau xử lý). Lượng nước còn lại được bơm vào hai bể lọc áp lực nối tiếp (bể lọc cát và bể lọc than hoạt tính) để loại bỏ triệt để SS, độ màu, và COD, BOD5 trong nước thải trước khi thải ra mương thoát nước. Nước thải sau xử lý đạt QCVN 12:2008/BTNMT.