XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT

Nước thải sinh hoạt chủ yếu từ các khu dân cư chỉ một phần được phân bố chảy vào hệ thống cống ngầm. Lượng nước thải thoát hiện nay chủ yếu theo hướng ra ao, hồ, các khu bãi trũng, ruộng mà không qua hệ thống xử lý phù hợp gây ô nhiễm môi trường, dịch bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe người dân. Vì vậy cần thu gom xử lý để giảm thiểu ô nhiễm và tạo môi trường phát triển bền vững.





Sơ đồ công nghệ một trạm Xử lý nước thải sinh hoạt điển hình

Nước thải từ các tòa nhà trong khu đô thị thu gom về Hệ thống thu gom nước thải tập trung. Trước khi vào bể gom nước thải được tách rác sơ bộ bởi máy tách rác thô để loại bỏ toàn bộ rác có kích thước lớn hơn >25 mm. Sau đó, nước thải được bơm đưa qua máy lọc rác tinh kích thước lớn hơn 2mm, lắng cát trước khi vào bể điều hoà, tại bể điều hoà bố trí hệ thống sục khí để điều hoà cả lưu lượng và nồng độ nước thải. Ngoài ra, việc sục khí bể điều hoàn còn tránh lắng cặn tại bể và phân huỷ yếm khí không có lợi cho quá trình xử lý tiếp theo.

Nước thải tiếp tục được bơm từ bể điều hòa sang bể MBBR để xử lý tổng hợp, trong bể sử dụng đệm vi sinh chuyển động các vi sinh vật sinh trưởng tồn tại ở hai dạng bám dính và lơ lửng. Trong bể này nitrat hóa chuyển NH4+ thành NO3- và một phần NO3- thành N2 nhờ lớp bùn thiếu khí bên trong lớp đệm vi. Trong bể này xảy ra các phản ứng sinh hóa: vi sinh vật hiếu khí sử dụng oxy để oxy hóa các chất ô nhiễm trong nước thải và sử dụng một phần chất dinh dưỡng trong nước thải để tạo thành CO2 và H2O và một phần tổng hợp thành tế bào vi sinh vật mới. Oxy (không khí) được cung cấp bằng các máy thổi khí (airblower) và hệ thống phân phối khí dạng ống đục lỗ để cấp cho bể MBBR. Lượng khí cung cấp vào bể với mục đích: (1) cung cấp oxy cho vi sinh vật hiếu khí sử dụng các chất hữu cơ như BOD, chất dinh dưỡng N, P làm thức ăn để chuyển hóa chất trơ không hòa tan thành nước, carbonic và các tế bào mới, chuyển hóa nitơ hữu cơ và ammonia thành nitrat NO3-, (2) xáo trộn đều nước thải và bùn hoạt tính, đệm vi sinh tạo điều kiện để vi sinh vật tiếp xúc tốt với các cơ chất cần xử lý.

Nước thải sau khi qua hệ thống sinh học MBBR được dẫn sang bể aeroten nhằm mục đích hoạt hóa bông bùn hoạt tính đảm bảo dễ lắng, đồng thời tiếp tục xử lý các chất hữu cơ còn lại trong nước thải trước khi qua bể lắng. Việc cấp khí cho bể Aeroten được thực hiện bằng thiết bị cấp khí chìm, khí được cấp từ máy thổi khí. Việc sử dụng thiết bị cấp khí chìm giúp giảm thiểu quá trình bảo trì bảo dưỡng cũng như thực hiện việc bảo trì, bảo dưỡng được dễ dàng.

Nước thải sau một thời gian được thông khí trong bể Aeroten dưới tác dụng của các vi sinh vật hiếu khí (bùn hoạt tính) các chất ô nhiễm đã được chuyển hóa thành sinh khối tế bào mới và tự chảy qua bể lắng thứ cấp, tại đây bùn trong nước tự lắng xuống nhờ trọng lực. Tại bể lắng, lượng bùn lắng xuống đáy một phần được bơm hồi lưu về bể MBBR một phần được bơm sang bể chứa bùn nhờ hệ thống bơm. Bùn trong bể chứa bùn định kỳ được bơm vào máy ép bùn băng tải, bùn sẽ được ép khô tháo xuống bồn chứa bùn và đem đi chôn lấp. Nước trong trên bề mặt bể lắng được tự chảy sang bể khử trùng, tại đây sử dụng nước Javen (NaClO) khử các vi sinh vật gây bệnh trong nước thải trước khi nước thải được dẫn ra môi trường.